Số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm (thường gọi là số đăng ký mỹ phẩm, số lưu hành mỹ phẩm hoặc visa mỹ phẩm) là dấu hiệu do Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thuộc ngành y tế, cụ thể là Bộ Y tế hoặc Sở y tế, cấp cho một hoặc nhiều mỹ phẩm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu của Tổ chức, cá nhân đứng tên trên Hồ sơ công bố mỹ phẩm nhằm xác định mỹ phẩm đó đã được khai báo là sẽ được đưa ra lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Do bản chất của Số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm chỉ là việc khai báo mỹ phẩm sẽ được ra lưu thông trên thị trường cho nên nó sẽ không có giá trị chứng nhận mỹ phẩm đó an toàn, hiệu quả, đạt chất lượng, cũng như đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Hiệp định hòa hợp mỹ phẩm Asean. Vì vậy, người tiêu dùng không thể chỉ căn cứ vào Số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm để làm tiêu chí lựa chọn mỹ phẩm sử dụng, mà cần phải xem xét đến các yếu tố khác như: thương hiệu mỹ phẩm, chủ sở hữu hoặc/ và nhà sản xuất mỹ phẩm, thành phần có trong công thức mỹ phẩm và các yếu tố khác có liên quan đến mỹ phẩm.

Số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm thường được thể hiện trên bao bì thương phẩm của mỹ phẩm, bao bì trực tiếp hoặc bao bì ngoài, bên cạnh rất nhiều những dấu hiệu khác như nhãn hàng, tên mỹ phẩm, công dụng, mục đích sử dụng mỹ phẩm, công thức của mỹ phẩm, những thông tin, hình vẽ mang tính quảng cáo, giới thiệu... Do vậy Số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm cần phải có một ký hiệu riêng biệt và thống nhất để người tiêu dùng cũng như cơ quan kiểm tra có thể nhận biết một cách nhanh chóng và chính xác. Số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm được quy định như sau: Số thứ tự được cấp + gạch chéo + năm cấp (hai chữ số cuối) + gạch chéo + CBMP + gạch ngang + ký hiệu viết tắt tên tỉnh, thành phố, Ban Quản lý Khu kinh tế hoặc Cục Quản lý dược (QLD). Ví dụ: 135/11/CBMP-HN có nghĩa là số tiếp nhận Phiếu công bố mỹ phẩm là 135 do Sở Y tế Hà Nội cấp năm 2011.